Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Tính kháng nhiệt độ thấp của cao su butadiene

Viet rubber - Phớt cao su tổng hợp
Viet rubber - Phớt cao su tổng hợp
Polybutadiene với hàm lượng đơn vị 1,4-cis- vượt trội (w = 90% và lớn hơn) là một polymer đồng thể có cấu trúc đều đặn, vì vậy tính kháng nhiệt độ thấp được xác định bởi cả sự chuyển thủy tinh và sự kết tinh. Các thông số chuyển thủy tinh và kết tinh của 1,4-cis-polybutadiene về bản chất phụ thuộc vào vi cấu trúc của nó, cuối cùng là phụ thuộc vào loại hệ xúc tác được sử dụng trong quá trình tổng hợp. Các loại xúc tác thương mại từ titanium, cobalt và nickel.
Polybutadiene dùng xúc tác titanium (cao su SKD) được đặc trưng bởi sự phân bố khối lượng phân tử hẹp và thực tế không phân nhánh. Hàm lượng của đơn vị 1,4-cis- w từ 87 tới 93%; đơn vị 1,4-trans từ 3 tới 8% và đơn vị 1,2- từ 3 tới 5%; Tg = -105oC; phụ thuộc vào các điều kiện trong quá trình polymer hóa, Mw/Mn có thể thay đổi từ 1.5 tới 5. Cao su (SKD-2) đạt được khi sử dụng xúc tác cobalt được đặc trưng bởi sự phân nhánh đáng kể, w thay đổi từ 93 tới 98%; hàm lượng của các đơn vị 1,4-trans- từ 2 tới 4% và các đơn vị 1,2- từ 2 tới 4%, Mw/Mn = 3 – 5; Tg = -107oC. Xúc tác từ các phức chất π-allyl nickel có thể sản xuất các polymer (ví dụ, SKD-3) chứa tới 98% các đơn vị 1,4-cis-, từ 1 tới 3% các đơn vị 1,2-, Mw/Mn = 5 – 8 và sự phân nhánh đáng kể; Tg = -110oC.
Sự kết tinh của 1,4-cis-polybutadiene đã được nghiên cứu kỹ. Nhiệt độ mà vận tốc kết tinh lớn nhất T1 = –(55–56)°C. Ở nhiệt độ này, polybutadiene với w > 93% kết tinh rất nhanh. Hàm lượng đơn vị cis ảnh hưởng rất nhiều đến vận tốc kết tinh, tăng vận tốc kết tinh rõ ràng khi đi từ w = 93% tới w = 96% trong quá trình làm lạnh ở vận tốc cho trước. Nếu hàm lượng đơn vị cis cao hơn, tính kháng nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn được xác định hoàn toàn bởi sự kết tinh, thậm chí trong các hỗn hợp cao su với SKI-3 (isoprene). Ở w < 75%, sự kết tinh của polybutadiene không nhận thấy trong thời gian quan sát đủ lớn.
Tham khảo từ tài liệu Low-Temperature Behaviour of ElastomersM.F. Bukhina, S.K. Kurlyand, CRC Press, 2007, trang 142 - 144
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su kỹ thuật - Vòng đệm cao su epdm
Cao su kỹ thuật - Vòng đệm cao su epdm

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Bọt polyisocyanurate biến tính polyol polyether

Dây cuaroa răng kéo dây điện
Dây cuaroa răng kéo dây điện
Đặc trưng nổi bật của bọt polyisocyanurate là tính kháng cháy của nó so với bọt urethane. Tính kháng cháy của bọt liên quan tới hàm lượng liên kết isocyanurate (% trimer). Hàm lượng trimer cao hơn, tính dễ cháy của bọt giảm đáng kể nhưng tính dễ vỡ vụn tăng tới mức không chấp nhận được, khối lượng mất hơn 30%. Ngược lại, bọt có hàm lượng trimer thấp, dễ cháy hơn nhưng khối lượng mất đi do tính dễ vỡ vụn giảm.
Tính kháng cháy của bọt tạo từ TDI và diphenylmethane diisocyanate (MDI) có sự khác biệt rõ ràng. Bọt tạo từ MDI ở tỷ số đương lượng cao, thời gian cháy xuyên qua khoảng 2000 giây (khoảng 33 phút). Ngược lại, thời gian cháy xuyên qua của bọt tạo từ prepolymer TDI là khoảng 20 giây ở tất cả tỷ số đương lượng NCO/OH. Các lý do cho tính kháng cháy kém là (a) sự cyclotrimerizate hóa bị làm chậm bởi cản trở hình học của nhóm ortho methyl của TDI và ngoài ra (b) monomer TDI bị phân hủy bởi nhiệt và kích động ngay lập tức sau đó trong không khí, vì nhiệt phân hủy liên kết urethane từ TDI bắt đầu ở khoảng 150oC, cao hơn nhiệt độ bốc cháy vốn có của TDI (132oC). Vì vậy, chỉ MDI dạng polymer được sử dụng để tạo bọt polyisocyanurate.
Tác động của số nhóm chức polyol polyether lên thời gian cháy xuyên qua cũng được nghiên cứu ở các tỷ số đương lượng NCO/OH khác nhau. Các triol polyether được sử dụng, như TG-260 (khối lượng đương lượng OH: 86.7) và glycerol (khối lượng đương lượng OH: 30.7) tạo nên tính kháng cháy tương đối kém hơn các polyol có nhiều nhóm chức hơn với khối lượng đương lượng trong dãy 115 tới 130.
Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 104 - 109
(vtp-vlab-caosuviet)
Viet rubber company - Thanh cao su máy vặt lông gà vịt
Viet rubber company - Thanh cao su máy vặt lông gà vịt

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Khái quát và chi tiết


Khái quát
Nhà quản lý thường được khuyên nên có cách nhìn khái quát.
Cái nhìn khái quát giúp nhìn các vấn đề được trật tự. Nhìn từ xa, dễ nhận diện những nỗi trội, dễ thấy "những mảng màu" khác biệt. Đứng tách rời nên không bị dính vào những cái mình thấy.
Người quản lý có óc khái quát sẽ thấy được đầu mối của vấn đề và giải quyết công việc được nhanh chóng. Ở đó, sự so sánh, đối chiếu, chọn lựa và quyết định được cái toàn thể. Nơi đứng nhìn có thể ở trên cao, có thể từ nơi rất thấp.
Vấn đề là hiệu quả cuối cùng.

Chi tiết
Cứ sa vào chi tiết, khó thấy hệ thống.
Những ai chí thú với những chi tiết, thường không được giao cho những việc khái quát. Ở trong chi tiết họ say và luôn nghĩ, đó là thế giới. Người say thì khó biết họ đang nghĩ gì. Người ngồi đáy giếng và xem đó là thế giới cũng khó biết là họ sống có thú vị không.
Vấn đề là họ sống có tốt không.


Pha lẫn
Chạm vào chi tiết, nếu như chi tiết đó là tiêu biểu - sẽ giúp cho nhân vật được trải nghiệm. Sự trải nghiệm làm cho những suy nghĩ trở nên sâu sắc. Xúc giác, thị giác và những giác quan thứ 6 rất nhạy cảm với cuộc sống. Khi chạm vào cuộc sống muôn màu của sự đa dạng nơi những góc khuất, cuộc sống tự biết tìm một chỗ ngồi nghỉ trong tiềm thức và có dịp là sẽ thăng hoa.
Đến một thành phố lớn, có một bản đồ tổng thể và thêm vào một bữa ăn tối trong một quán nhỏ (với người mình thương) - con người sẽ dính vào nơi đó bằng một chiều khác. Con người đã "dính" với quê hương bằng những kỷ niệm vụn vặt, như một sợi dây rốn, như thể đó mới là quê hương.
Thiếu sợi dây vô hình đó, "người  khái quát" có khi bay xa, lạc mất không biết đường về.

Bỏ đi khái niệm lớn nhỏ, khái quát hay chi tiết - cứ thụ hưởng với một lòng yêu quí "cái mà mình cần yêu", cứ sống như cuộc sống là muôn màu, thì trong chi tiết có khái quát, và ngược lại.


Có sự nhầm lẫn gì đó trong sự phân định mọi thứ.
Làm gì biết được cái nào là chi tiết.

nguyentuonglinh
30/12/2011

Viet rubber Company - Dây cuaroa răng kéo dây điện
Viet rubber Company - Dây cuaroa răng kéo dây điện
Cao su phụ tùng - Đệm cao su dao cắt biên tôn
Cao su phụ tùng - Đệm cao su dao cắt biên tôn

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Tài liệu cao su “Rubber Curing Systems”

Báo cáo này của nhà xuất bản Smithers Rapra Press, được viết bởi tác giả R. N. Datta. Sách được xuất bản vào năm 2002, dày 156 trang.
Kết mạng các phân tử polymer là phương pháp được sử dụng rộng rãi để cải thiện các tính chất vật lý của vật liệu đàn hồi. Lưu huỳnh là chất kết mạng đầu tiên được sử dụng để kết mạng cao su thiên nhiên vào những năm 1840. Tới hiện tại, cùng với việc xuất hiện nhiều loại cao su, các hệ kết mạng mới cũng được phát triển như: peroxide, oxyt kim loại, amine và nhựa phenolic. Vì vậy, lựa chọn đúng hệ kết mạng để vật liệu đàn hồi đạt được các đặc tính phù hợp cho một ứng dụng riêng biệt cũng như an toàn cho môi trường, người lao động là rất quan trọng.
Báo cáo này xem xét toàn diện các hệ kết mạng hiện nay được dùng cho các loại cao su khác nhau gồm cao su thiên nhiên, SBR, NBR, IIR, CR, XIIR và EPDM. Việc sử dụng các chất xúc tiến chính và phụ, các chất ức chế lưu hóa sớm, các chất chống đảo ngược quá trình cũng được đề cập. Các công thức cao su tiêu biểu cho các sản phẩm công nghiệp như dây đai, phớt động cơ, đệm làm kín, lốp xe (các phần của lốp xe) được giới thiệu cùng với nhiều bảng dữ liệu so sánh các hệ kết mạng và tính chất của chi tiết tạo thành. Ngoài ra, phần cuối sách giới thiệu hàng trăm tóm tắt nghiên cứu từ cơ sở dữ liệu Rapra Polymer Library, chúng là các tài liệu tham khảo có ích cho người đọc nghiên cứu xa hơn.
Contents
Chapter 1. Introduction
1.1 Conventional Vulcanisation, Semi-Efficient Vulcanisation and Efficient Vulcanisation
1.2 Measuring Cure
1.3 Test Equipment and Conditions
Chapter 2. Curing Systems
2.1 Sulfur Curing Systems
2.2 Cures for Speciality Elastomers
2.3 Peroxide Cure Systems
2.4 Sulfur Free Curing Systems
2.5 New Developments
Chapter 3. Some Practical Examples with Varying Cure Systems
3.1 Tyres
3.2 Industrial Rubber Products
Chapter 4. Concluding Remarks
Báo cáo này phù hợp cho bất cứ ai có kiến thức cơ bản về lĩnh vực polymer.
Tham khảo từ tài liệu Rubber Curing SystemsR. N. Datta, Smithers Rapra Press, 2002 và trang web www.amazon.com
(vtp-vlab-caosuviet)
Viet rubber - Thanh PU đế dập dao cắt
Viet rubber - Thanh PU đế dập dao cắt
Cao su kỹ thuật - Đệm teplon chống mài mòn
Cao su kỹ thuật - Đệm teplon chống mài mòn

Kết mạng cho fluoroelastomer loại VDF/HFP/(TFE) – Hệ bisphenol

Phần 2 – Chất xúc tiến
Xem phần 1 tại đây
Cao su kỹ thuật - Bánh xe forklift bằng PU
Cao su kỹ thuật - Bánh xe forklift bằng PU

Một số chất xúc tiến đã được phát triển cho hệ kết mạng bisphenol, thay thế cho các muối phosphonium (BTPPC). Daikin đã phát triển các bazơ khác nhau chứa các cấu trúc dị vòng nitơ, bao gồm các amidine vòng như 8-benzyl-1,8-diazabicyclo[5,4,0]-7-undecenium chloride. Montedison đã phát triển các chất xúc tiến dựa trên các dẫn xuất amino phosphinic và các muối bis(triarylphosphin) iminium. Hầu hết các chất  xúc tiến này được thêm sẵn vào bisphenol như một thành phần cho các hỗn hợp fluoroelastomer thương mại; nhìn chung thành phần chính xác không được tiết lộ bởi các nhà cung cấp.
Các muối ammonium bậc bốn cũng là các chất xúc tiến hiệu quả cho hệ kết mạng bisphenol. Đặc biệt, tetrabutylammonium hydrogen sulfate (TBAHS) tạo nên sự kết mạng nhanh các terpolymer VDF/HFP/TFE có hàm lượng fluorine cao, mức kết mạng cao với tính kháng lưu hóa sớm tốt. Ưu điểm chính của các hỗn hợp vật liệu đàn hồi xúc tiến bằng TBAHS là ít tắc nghẽn khuôn hơn các hỗn hợp dùng các chất xúc tiến chứa các ion chloride, bromide, hoặc iodide. Ngoài hydrogen sulfate, các anion khác liên kết với ion tetrabutylammonium cũng ít làm tắc nghẽn khuôn, gồm fluoride, dihydrogen phosphate, acetate, methane sulfonate, toluene sulfonate, periodate, và bisphenolate. Trong một vài nghiên cứu, TBAHS được cho là hoạt động tốt với các bisphenol khác Bisphenol AF. Tóm lại, trong các terpolymer VDF/HFP/TFE có hàm lượng fluorine cao, so với BTPPC, TBAHS tạo nên độ nhớt hỗn hợp thấp hơn, kết mạng nhanh hơn, mức kết mạng cao hơn, tính chịu ép nén tốt hơn và ít tắc nghẽn khuôn hơn.
Tham khảo từ tài liệu Fluoroelastomers Handbook: The Definitive User's Guide and DatabookAlbert L. Moore, William Andrew, 2006, trang 83
(vtp-vlab-caosuviet)
Vietrubber company - Phớt V-ring chịu mài mòn
Vietrubber company - Phớt V-ring chịu mài mòn

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Kết mạng cho fluoroelastomer VDF/HFP/(TFE) – Hệ bisphenol

Vietrubber - Phễu hút thiếc máy dập nắp lon sữa bò
Vietrubber - Phễu hút thiếc máy dập nắp lon
Phần 1
Từ năm 1970, hệ bisphenol đã thay thế hệ diamine để kết mạng fluoroelastomer loại VDF/HFP và VDF/HFP/TFE. Hệ bisphenol này có những ưu điểm như an toàn gia công rất tốt, kết mạng nhanh tới mức cao, các tính chất cuối cùng rất tốt, và đặc biệt là tính kháng biến dạng nén ở nhiệt độ cao của các đệm làm kín.
Tuy có một vài dihydroxy thơm có thể được sử dụng như các chất kết mạng, ví dụ như bisphenol đơn giản nhất (hydroquinone), nhưng chất kết mạng được ưa thích là Bisphenol AF, 2,2-bis-(4-hydroxyphenyl)-hexafluoropropane, HOΦ–C(CF3)2–ΦOH. Chất xúc tiến thông thường là benzyltriphenylphosphonium chloride, Φ3P+CH2ΦCl (BTPPC) được sử dụng với các bazơ vô cơ, calcium hydroxide và magnesium oxide, với kích thước hạt nhỏ. Một số các muối phosphonium bậc bốn hoặc ammonium khác cũng có thể được sử dụng như các chất xúc tiến. Một hỗn hợp dipolymer VDF/HFP tiêu biểu được sử dụng cho đệm làm kín oring là: dipolymer VDF/HFP-100, than đen MT-30, MgO (Maglite D)-3, Ca(OH)2-6, bisphenol AF-2, BTPPC-0.55 (phần trăm của polymer).
Đối với hệ này, sự kết mạng không xảy ra hơn 30 phút ở nhiệt độ gia công 121oC; và ở nhiệt độ kết mạng 177oC, thời gian hoãn kết mạng là khoảng 2.5 phút đủ để cho phép hỗn hợp chảy đều trong khuôn. Sau đó, quá trình kết mạng xảy ra nhanh, vì vậy trạng thái kết mạng cao đạt được trong thời gian ngắn khoảng 5 phút. Mức bisphenol và chất xúc tiến có thể được điều chỉnh để thay đổi vận tốc và trạng thái kết mạng cho các ứng dụng và phương pháp gia công khác nhau. Mật độ kết mạng tỷ lệ với mức bisphenol AF trong dãy 0.5 tới 4 phr (phần trăm của polymer).
Dữ liệu lão hóa nhiệt cho thấy tuổi thọ sử dụng của các fluoroelastomer được kết mạng bisphenol rất dài, >3000 giờ ở 232°C (450°F) và >1000 giờ ở 260°C (500°F). Ở 275oC, độ bền kéo giảm vừa phải và độ giãn dài tại điểm gãy tăng ghi nhận một vài liên kết mạng đã đứt gãy.
Tham khảo từ tài liệu Fluoroelastomers Handbook: The Definitive User's Guide and DatabookAlbert L. Moore, William Andrew, 2006, trang 78 – 79
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su kỹ thuật - Trục cao su xử lý tôn
Cao su kỹ thuật - Trục cao su xử lý tôn

Tính kháng nhiệt độ thấp của polyisoprene (phần 2)

Xem phần 1 tại đây
Đệm cao su làm kín
Đệm cao su làm kín
Giá trị nhiệt độ nóng chảy cân bằng Tm0 (39 - 40oC) tương đối cao, vì vậy NR kết tinh một phần khi được tồn trữ ở nhiệt độ phòng hay nhiệt độ thấp hơn. Sự xuất hiện của pha tinh thể làm tăng vận tốc hình thành gel than đen-cao su và làm quá trình gia công khó khăn. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải làm nóng chảy các tinh thể bằng phương pháp xử lý hơi nước trước khi gia công. Ngoài ra, NR có thể được độn với các loại dầu đặc biệt ức chế kết tinh để tránh sự kết tinh trong tồn trữ và vận chuyển giúp có thể gia công mà không cần xử lý nhiệt trước.
Sự kết tinh của NR bị ảnh hưởng mạnh bởi hàm lượng và loại tạp chất protein, chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kết tinh ở nhiệt độ thấp. Những tạp chất này đặc biệt quan trọng trong quá trình kết tinh được gây bởi ứng suất, vì chúng hình thành mạng lưới các liên kết yếu, mạng lưới này đóng góp cho sự mở rộng chuỗi, giảm giá trị biến dạng và kết tinh với các chuỗi đã được mở rộng. Điều này, cùng với sự phân bố khối lượng phân tử khác nhau giải thích cho sự khác biệt trong độ bền liên kết của hỗn hợp cao su không độn từ NR so với polyisoprene tổng hợp (ví dụ SKI-3). Sử dụng các phụ gia hữu cơ khác nhau làm tăng nhẹ độ bền liên kết của polyisoprene tổng hợp; tuy nhiên, các cố gắng để đạt độ bền liên kết như NR vẫn chưa thành công. Các nghiên cứu về việc sử dụng xúc tác neodymium kết hợp với sự lựa chọn các phụ gia thích hợp làm tăng sự kết tinh do ứng suất, có thể sản xuất polyisoprene tổng hợp với các tính chất tương tự như NR.
Như các loại vật liệu đàn hồi khác, sự thêm vào loại cao su styrene-butadiene không kết tinh làm chậm sự kết tinh của NR.
Tham khảo từ tài liệu Low-Temperature Behaviour of ElastomersM.F. Bukhina, S.K. Kurlyand, CRC Press, 2007, trang 140 - 142
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su kỹ thuật - Gasket cao su nối đường ống
Cao su kỹ thuật - Gasket cao su nối đường ống

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

Tính kháng nhiệt độ thấp của polyisoprene (phần 1)

Cao su phụ tùng - Con lăn PU đè gỗ
Cao su phụ tùng - Con lăn PU đè gỗ
Cả polyisoprene thiên nhiên và tổng hợp đều chứa hơn 90% đơn vị 1,4-cis-; đối với cao su nhiên thiên, có thể cho rằng 100% đơn vị 1,4-cis được gắn theo kiểu đầu-đuôi. Phụ thuộc vào hệ xúc tác và mức độ chuyển hóa, polyisoprene tổng hợp có mức đều đặn cấu trúc, khối lượng phân tử và phân bố khối lượng phân tử khác nhau. Ví dụ, polyisoprene được sản xuất dùng xúc tác lithium chứa 93% đơn vị 1,4-cis-, 2% 1,4-trans- và 5% hoặc nhiều hơn đơn vị 3,4-; trong các đơn vị 1,4, 1-2% được gắn theo kiểu đầu-đầu và 2%, theo kiểu đuôi-đuôi. Nếu quá trình polymer hóa sử dụng xúc tác Ziegler-Natta, hàm lượng của đơn vị 1,4-cis- lên tới 98%; 2% đơn vị 1,4-trans- và 1% đơn vị 3,4- ; trong đó, 1% đơn vị 1,4 được gắn theo kiểu đầu-đầu và xấp xỉ một lượng tương tự được gắn đuôi-đuôi. Sử dụng xúc tác cobalt và neodymium tạo thành cao su có tính đều đặn cấu trúc tốt hơn.
Tính kháng nhiệt độ thấp của polyisoprene được xác định bởi vi cấu trúc của chúng. Các đơn vị 1,4-trans- và 3,4- với lượng lên tới 20% có thể phá vỡ cấu trúc, ngăn chặn sự kết tinh dẫn đến tính kháng nhiệt độ thấp được xác định riêng biệt bởi quá trình chuyển thủy tinh. Tuy nhiên, thực tế các polyisoprene thương mại có các đơn vị 1,4-trans- và 3,4- rất ít nên tính kháng nhiệt độ thấp của polyisoprene được xác định chủ yếu bởi quá trình kết tinh.
Sự kết tinh của NR đã được nghiên cứu gần như hoàn toàn và hầu hết những dữ liệu đạt được có thể dùng cho polyisoprene tổng hợp. Vận tốc kết tinh NR lớn nhất ở nhiệt độ T1 = –(25–26)°C, nhiệt độ nóng chảy cân bằng Tm0 = 39 - 40°C. Các thông số kết tinh của NR ở nhiệt độ T1 chủ yếu phụ thuộc vào loại cao su thiên nhiên, hàm lượng protein , các sản phẩm được trích ly acetone, tỷ số gel và sol của NR.
Tham khảo từ tài liệu Low-Temperature Behaviour of ElastomersM.F. Bukhina, S.K. Kurlyand, CRC Press, 2007, trang 140 - 142
(vtp-vlab-caosuviet)
Vietrubber company - Gasket cao su đường nối ống
Vietrubber company - Gasket cao su nối đường ống

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Bọt polyisocyanurate

Liên kết isocyanurate được tạo thành bởi sự cyclotrimerizate hóa các nhóm isocyanate như được thể hiện trong hình bên dưới.
Cấu trúc hóa học của liên kết urethane có một nguyên tử hydro không bền và nó phân tách ở nhiệt độ tương đối thấp. Ngược lại, liên kết isocyanurate không có nguyên tử hydro không bền. Đây là lý do cho tính ổn định nhiệt cao của bọt polyisocyanurate.
Vietrubber - Con lăn PU đè gỗ
Vietrubber - Con lăn PU đè gỗ
Tài liệu sáng chế đầu tiên liên quan bọt polyisocyanurate là bọt urethane chứa liên kết isocyanurate với mục đích là tăng mật độ liên kết bằng cách kết hợp các liên kết 3 nhóm chức vào trong bọt urethane cùng với việc dùng các polyol polyester có độ nhớt thấp, số nhóm chức thấp.  Điều này dẫn đến tạo thành bọt urethane cứng. Bọt polymer được tạo thành bởi quá trình polycyclotrimerizate các polyisocyanate thơm không dùng các chất biến tính có cấu trúc kết mạng cao. Vì vậy, bọt tạo thành cực kỳ cứng và dễ vỡ và không chịu được ứng suất đóng gói và vận chuyển. Thêm vào đó, khi tiếp xúc với lửa, bọt vỡ thành từng mảnh nhỏ như bắp rang. Những khuyết điểm này làm cho không thể dùng bọt cho các ứng dụng thực tế.
Kỹ thuật đột phá mạnh mẽ trong sản xuất bọt cứng kháng nhiệt, lửa và đặc biệt tính vỡ vụn thấp được phát minh đầu tiên bởi K. Ashida, công ty Nisshin Boseki (Nisshinbo Industries Inc.) ở Nhật Bản vào năm 1966. Nguyên lý của sáng chế Ashida là giảm mật độ kết mạng bằng chất biến tính. Các chất biến tính sử dụng bao gồm các polyol polyether với khối lượng phân tử 300 hoặc lớn hơn với số nhóm chức ít nhất ba. Bọt không cháy với tính kháng nhiệt, lửa cao và tính vỡ vụn thấp được tăng thêm bởi sự kết hợp các chất độn vô cơ như graphite, đá tan và sợi vô cơ.
Bọt polyisocyanurate biến tính được dùng làm vật cách nhiệt cho các tòa nhà, lớp lõi bọt mỏng cho tường, tấm cách nhiệt cho máy nhà, vật cách nhiệt cho bể chứa khí hóa lỏng (LPG), bể chứa khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) dưới đất.
Tham khảo từ tài liệu Polyurethane and Related Foams, Kaneyoshi Ashida, CRC - Taylor & Francis, 2006, trang 101 - 103
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su kỹ thuật - Thanh cao su tổng hợp
Cao su kỹ thuật - Thanh cao su tổng hợp

Cần lắm những trải nghiệm


Đọc 
Khái quát vấn đề đọc sách như là sự thu nhận những thông điệp từ người khác, thì hàng ngày có vô số sách để đọc.
Đi ngang qua một cửa hàng, ở đó có bài trí, màu sắc, thẩm mỹ. Ở đó có kíến trúc, có hội hoạ, có âm thanh. Ở đó có phong cách giao tiếp, có quản trị, có thời trang, có tiếp thị và vô số các hình thức không ngôn ngữ.
Muốn viết một quyển sách, tác giả mất một đời trải nghiệm. Mỗi người không thể sống nhiều trải nghiệm trong cùng một thời gian. Đọc, là kết bạn, sống cùng với tác giả. Đọc một quyển sách thú vị, như là thiền trà cùng bạn tâm giao.
Đọc như là một tiếp nhận thông tin, tiếp nhận dữ liệu. Không xem những kết luận, những khẳng định của bạn là chắc đúng. Không xem những phê phán của bạn là chắc sai. Cũng như màu sắc vậy. Sự gom màu, hiểu màu mới thực quan trọng. Khi cần tạo một bức tranh, vấn đề thành công sẽ đạt khi đặt để màu đúng vị trí, đặt các màu  bên nhau đúng cách (hoặc phá cách). Không có màu xấu. Không có thông tin xấu.


Trải nghiệm
Không đủ thời gian để sống với, sống cùng tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống. Nếu ai cũng sống đủ như một máy chủ, thì thế giới sẽ vỡ tan. Cuộc sống cần lắm những khác nhau, cần lắm những đa dạng, cần lắm những mâu thuẫn.
Vậy nên, mỗi người sẽ có những trải nghiệm riêng. Những trải nghiệm đó nhiều lúc khó chịu, đau đớn. Trải nghiệm càng có quả đấm mạnh, càng có giá trị chuyển hoá thành ngọc, thành vàng. Những trải nghiệm vàng là những trải nghiệm tiêu biểu để xây nên tính cách một người. Nơi ấy, người đó không phải  trả giá quá cao bằng các "kinh nghiệm" và không kinh nghiệm.
Trải nghiệm là một cơ hội để họ chạm tay vào cuộc sống. Khi chạm tay vào, một thứ xúc giác thô thiển, nhưng sẽ tác động mạnh mẽ gấp ngàn lần suy luận của bộ óc tinh khôn. Khi chạm, dù rất nhẹ vào tay vào người mình yêu, như một trải nghiệm mà người ta mất hàng chục năm suy nghĩ, mơ tưởng.


Quan sát và suy nghiệm
Để thụ hưởng thật sự những thú vị cuộc sống, con người cần quan sát. Nhìn, chú ý và không chú ý những thứ "thấy" hàng ngày, hàng đêm. Tự giải thích, so sánh và tự hiểu mọi vấn đề theo cách riêng mình. Không cần giống ai, không cần tuân theo một nguyên tắc nào. Làm gì có ai giống hệt ai, làm gì có những nguyên tắc cho mọi thứ.
Suy nghiệm là quá trình tinh luyện thành vàng từ những thứ được lấy lên thô thiển. Suy nghiệm để hiểu được rằng, thế giới luôn tồn tại những việc trái nhau, mà ranh giới không nhất định. Khi nào ranh giới vượt quá mức ranh giới, thì nó lại quay về cân bằng. Có những quay về êm dịu, có những quay về nghiệt ngã. 
Suy nghiệm để thụ hưởng từ những trải nghiệm áp đặt từ cuộc sống. 
Trải nghiệm để thu về những trải nghiệm đủ sắc màu, cất để dành phòng khi hữu sự.

Cần lắm những trải nghiệm. Đó là điều rất cần tạo nên sự khác biệt.


nguyentuonglinh
23/12/2011

Vietrubber - Đệm cao su dầu tưới cây tự động
Vietrubber - Đệm cao su dầu tưới cây tự động
Cao su kỹ thuật - Con lăn PU đè gỗ
Cao su kỹ thuật - Con lăn PU đè gỗ

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Compounding Precipitated Silica in Elastomers


Sách này của nhà xuất bản William Andrew, được viết bởi tác giả Norman Hewitt. Sách được xuất bản vào năm 2007, dày 578 trang.
Sách này cung cấp những hướng dẫn hữu ích cho việc phối trộn vật liệu đàn hồi với silica kết tủa, bao gồm nguyên lý, tính chất, phối trộn, thử nghiệm và lập công thức từ quan điểm thực tế. Ngoài ra, sự so sánh giữa việc dùng than đen và silica xuyên suốt sách cho phép người đọc lựa chọn chất độn và lập công thức phù hợp cho những ứng dụng như lốp xe, vật cách điện, đế giày.
Sách được viết bởi tác giả có hơn 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực cao su, các nghiên cứu của tác giả cũng được giới thiệu giúp tạo nên nội dung sách phong phú, đa dạng và có độ tin cậy cao.
Contents
Chapter 1. Silica as a Reinforcing Filler
Chapter 2. Compounding Precipitated Silica in Natural Rubber
Chapter 3. Compounding Precipitated Silica in Emulsion SBR
Chapter 4. Compounding Precipitated Silica in Solution SBR and BR
Chapter 5. Compounding Precipitated Silica in EPDM
Chapter 6. Compounding Precipitated Silica in Neoprene
Chapter 7. Compounding Precipitated Silica in Nitrile
Appendix A: Compounding Basics
Appendix B: Compounding Materials
Appendix C: Rubber Processing
Appendix D: Physical Testing of Rubber
Appendix E: Common Compounding Abbreviations
Sách là tài liệu tham khảo tốt cho những người thiết kế sản phẩm, lập công thức, sản xuất và ứng dụng vật liệu đàn hồi.
Tham khảo từ tài liệu Compounding Precipitated Silica in ElastomersNorman Hewitt, William Andrew, 2007 và trang web www.amazon.com
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su phụ tùng - Cao su giảm chấn chân máy
Cao su phụ tùng - Cao su giảm chấn chân máy
Hình ảnh trục lô cao su kháng hóa chất trong mạ tôn
Hình ảnh trục lô cao su kháng hóa chất trong mạ tôn 

Kết mạng cho fluoroelastomer loại VDF/HFP/(TFE) – Hệ diamine

Vietrubber - Đệm cao su viton
Vietrubber - Đệm cao su viton
Có ba hệ chất kết mạng thương mại chính được sử dụng cho dipolymer VDF/HFP và terpolymer VDF/HFP/TFE. Hai hệ diamine và bisphenol dựa trên sự dehydrofluorinate hóa để hình thành các liên kết đôi trên chuỗi polymer, sau đó là phản ứng của các diamine hoặc bisphenol này vào các liên kết đôi để hình thành các liên kết mạng. Trong khi đó, hệ kết mạng peroxide sử dụng các vị trí kết mạng brom hoặc iod. Bài viết này sẽ tổng quan về việc dùng hệ diamine kết mạng cho fluororelastomer loại VDF/HFP/(TFE).
Hệ kết mạng thực tế gồm các dẫn xuất diamine kèm với magie oxyt. Dẫn xuất diamine hoạt động như chất dehydrofluorinate hóa và chất kết mạng, trong khi magie oxyt hấp thu HF hình thành. Việc sử dụng dẫn xuất diamine là để giảm nhẹ hoạt tính và cho phép gia công an toàn hơn, do các diamine có khả năng phản ứng ở nhiệt độ thấp. Các dẫn xuất được sử dụng rộng rãi là muối carbamate của hexamethylene diamine +H3N–(CH2)6–NH–COO (Diak No.1), dẫn xuất dicinnamylidene FCH=CH–CH=N–(CH2)6–N=CH–CH=CHF (Diak No. 3), trong đó F tượng trưng cho nhóm phenyl. Nước được hình thành từ sự trung hòa HF bởi MgO phải được loại bỏ bởi quá trình kết mạng tiếp tục sau đó trong lò sấy không khí. Với sự hiện diện của nước trong cao su lưu hóa ở nhiệt độ cao, sự thủy phân các liên kết mạng có thể xảy ra, các cấu trúc carbonyl hình thành trên các chuỗi polymer với sự tái sinh chất kết mạng amine.
Hiện này, hệ kết mạng diamine được sử dụng tương đối ít. Hệ này không có tính ổn định gia công, tạo sự kết mạng sớm ở 100oC tới 140oC và kết mạng tương đối chậm ở nhiệt độ đúc khuôn (160°C tới 180°C). Các tính chất cao su lưu hóa tốt, nhưng tính kháng biến dạng nén ở nhiệt độ cao là bình thường, và sự giữ lại các tính chất vật lý khi tiếp xúc thời gian dài ở nhiệt độ trên 200oC là tương đối kém.
Sự kết mạng diamine cũng giúp ta hiểu rõ vấn đề giòn, dễ vỡ của đệm làm kín được làm từ fluoroelastomer VDF/HFP/TFE khi tiếp xúc thời gian dài ở nhiệt độ cao với chất bôi trơn ô tô. Dầu động cơ và chất bôi trơn truyền động chứa một lượng lớn các chất ức chế ăn mòn kim loại và chất phân tán, và khi chúng phân hủy sẽ hình thành các amine đa chức. Những amine này có thể phản ứng để hình thành thêm các liên kết mạng đủ để dẫn đến độ cứng quá dư và sau cùng là hư hỏng đệm làm kín. Sử dụng của các terpolymer có hàm lượng fluor cao giảm đáng kể sự trương nở bởi dầu và sự xâm nhập của các amine, vì vậy làm giảm tối thiểu sự tạo thành liên kết mạng thêm vào và tăng tuổi thọ của đệm làm kín.
Tham khảo từ tài liệu Fluoroelastomers Handbook: The Definitive User's Guide and DatabookAlbert L. Moore, William Andrew, 2006, trang 78 – 79
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su phụ tùng - Gasket cao su nối đường ống
Cao su phụ tùng - Gasket cao su nối đường ống

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Fluoroelastomer loại E/TFE/PMVE

Lô đè máy chà nhám thùng
Lô đè máy chà nhám thùng

Để đạt được tính kháng các lưu chất phân cực, bazơ tốt hơn các fluoroelastomer loại VDF/HFP/TFE, VDF/PMVE/TFE, và đạt được tính uốn dẻo ở nhiệt độ thấp, tính kháng với các hydrocarbon tốt hơn loại TFE/P, copolymer (ETP) của ethylene với TFE và PMVE đã được phát triển. Sự kết hợp các monomer này với thành phần khoảng 10-40% mol đơn vị ethylene, 20-40% mol đơn vị PMVE và 32-60% mol đơn vị TFE tạo thành vật liệu đàn hồi. Hàm lượng ethylen cao hơn hay hàm lượng PMVE thấp hơn đều dẫn đến việc tăng Tg và sự kết tinh.
Khả năng kháng các lưu chất phân cực, bazơ của ETP tốt hơn có thể được giải thích như sau. Do khuynh hướng xen kẽ mạnh của các olefin với các monomer perfluorinate hóa trong quá trình polymer hóa, ethylene như các đơn vị cô lập giữa các đơn vị TFE hoặc PMVE. Hình vẽ bên dưới minh họa loại GFLT (fluoroelastomer loại VDF/TFE/PMVE) và ETP có cùng hàm lượng fluor (67%), hàm lượng các thành phần khác cũng bằng nhau.
Trong GFLT, các chuỗi đơn vị VDF liền kề nhau chuyển thành các đôi E-TFE trong ETP dẫn đến tính kháng với các dung môi phân cực, bazơ hoặc amine cao hơn nhiều và Tg cao hơn khoảng 10oC.
Các monomer có vị trí kết mạng khác nhau đã được nghiên cứu cho kết mạng loại ETP. Các sản phẩm thương mại có các vị trí kết mạng brom cho phép kết mạng peroxide với các chất kế mạng như triallyl isocyanurate hoặc trimethallyl isocyanurate. Các tính chất cơ học và ổn định nhiệt của các hợp chất ETP là tương tự như các fluoroelastomer chứa VDF.
Tham khảo từ tài liệu Fluoroelastomers Handbook: The Definitive User's Guide and DatabookAlbert L. Moore, William Andrew, 2006, trang 20 – 21
(vtp-vlab-caosuviet)

Vietrubber company - Hình ảnh lô trục cao su máy tách củ tỏi
Vietrubber company - Hình ảnh lô trục cao su máy tách củ tỏi

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

Khả năng chịu lạnh của cao su butadiene-acrylonitrile (NBR)

Dây cuaroa kéo bao bì máy đóng gói
Dây cuaroa kéo bao bì máy đóng gói
Copolymer của butadiene và nitrile là loại cao su được sử dụng rộng rãi nhất, chúng kháng dầu và dung môi. Hàm lượng acrylonitrile w có thể thay đổi từ 10 tới 40%. Hàm lượng acrylonitrile w càng cao, Tg càng cao, dẫn đến tính kháng nhiệt độ thấp kém hơn, nhưng tính kháng với môi trường tốt  hơn. Cao su này được sản xuất bởi sự polymer hóa nhũ tương của butadiene và acrylonitrile. Butadiene-acrylonitrile là vật liệu đàn hồi không kết tinh tiêu biểu nên tính kháng nhiệt độ thấp của chúng được xác định hoàn toàn bởi sự chuyển thủy tinh. Chỉ các loại cao su có hàm lượng acrylonitrile w < 20%, ví dụ SKN-18, được xem là kháng nhiệt độ thấp.
Để giảm Tg và tăng tính kháng nhiệt độ thấp của những cao su này, các chất hóa dẻo được thêm vào. Tuy nhiên, khá khó để tạo thành các loại cao su có tính kháng nhiệt độ thấp dưới -60oC. Để đạt được tính kháng nhiệt độ thấp tốt hơn (kết hợp với tính kháng dầu tốt), các phụ gia styrene-butadiene được thêm vào các hỗn hợp butadiene-acrylonitrile. Tuy nhiên, chất hóa dẻo trong các loại cao su butadiene-acrylonitrile rất dễ di trú ra bề mặt và bị rửa trôi. Kết quả là tính kháng nhiệt độ thấp trong thời gian dài của cao su này suy giảm.
Lưu hóa với lượng lưu huỳnh thấp, tetramethyl thiuram disulphide và peroxide, cũng như thêm vào các chất độn hoạt tính thấp (không nhiều hơn 60 phần khối lượng) dẫn đến sự cải thiện tính kháng nhiệt độ thấp. Việc thêm vào ceolite như chất độn cũng cải thiện tính kháng nhiệt độ thấp.
Trong những năm gần đây, loại cao su butadiene-acrylonitrile hydro hóa được sử dụng tăng nhanh. Do tính không bão hóa thấp, tính kháng lão hóa của chúng vượt đáng kể tính kháng của các loại cao su butadiene-acrylonitrile thông thường. Tuy nhiên, không có dữ liệu có tính hệ thống về tính kháng nhiệt độ thấp của những vật liệu đàn hồi này.
Tham khảo từ tài liệu Low-Temperature Behaviour of Elastomers, M.F. Bukhina, S.K. Kurlyand, CRC Press, 2007, trang 139 - 140
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su nhựa polyurethane - Con lăn PU đè gỗ
Cao su nhựa polyurethane - Con lăn PU đè gỗ

Tính kháng nhiệt độ thấp của cao su styrene-butadiene (SBR)

Tấm cao su thử độ bám dính keo
Tấm cao su thử độ bám dính keo
Copolymer của butadien và styrene được sử dụng rộng rãi như các loại cao su thông dụng khác. Hàm lượng styrene từ 10 tới 85%. Hàm lượng càng lớn, nhiệt độ chuyển thủy tinh Tg càng cao. Cao su styrene-butadiene được sản xuất bởi phương pháp polymer hóa nhũ tương và polymer hóa trong dung dịch.
Phần butadiene của cao su khác nhau phụ thuộc vào phương pháp và nhiệt độ sản xuất. Đối với cao su polymer hóa nhũ tương (nhiệt độ polymer hóa, 5oC) phần butadiene  chứa 7% đơn vị 1,4-cis-, 72% 1,4-trans- và 21% đơn vị 1,2-. Khoảng 30% đơn vị styrene được tách ra, khoảng 40% được sắp xếp như một đôi. Cao su styrene-butadiene polymer hóa nhũ tương là không kết tinh nên tính kháng nhiệt độ thấp của chúng hoàn toàn được xác định bởi quá trình chuyển thủy tinh. Copolymer với hàm lượng styrene w < 30% là các vật liệu đàn hồi kháng nhiệt độ thấp. Phần butadiene của cao su polymer hóa dung dịch chứa các đơn vị 1,4-cis- lớn hơn nhiều (từ 40 tới 50%), 47% 3,2-trans- và từ 3 tới 13% đơn vị 1,2-. Hàm lượng của đơn vị 1,2- tăng lên quyết định giá trị Tg cao hơn so với cao su có hàm lượng đơn vị 1,4-cis- cao. Ví dụ, cao su polymer hóa dung dịch DSSK-18 có tính kháng nhiệt độ thấp tốt, Tg = –75 tới –79°C, thấp hơn nhiều nhiệt độ chuyển thủy tinh của cao su polymer hóa nhũ tương ở cùng hàm lượng styrene w, vì thành phần butadiene của nó chứa các đơn vị 1,2- ít hơn.
Khi được kết mạng bằng peroxide, tính kháng nhiệt độ thấp của styrene-butadiene là tốt nhất. Thêm các chất hóa dẻo sẽ làm giảm Tg và cải thiện tính kháng nhiệt độ thấp của cao su styrene-butadiene. Cao su styrene-butadiene (ở hàm lượng styrene w < 20%) có thể được dùng như các chất hóa dẻo vĩnh viễn cho cao su butadiene acrylonitrile. Việc thêm styrene-butadiene, đặc biệt với hàm lượng styrene w nhỏ vào cao su SKD, 1.4-cis-polybutadiene, sẽ cản trở hiệu quả sự kết tinh của hỗn hợp cao su tạo thành.
Tham khảo từ tài liệu Low-Temperature Behaviour of ElastomersM.F. Bukhina, S.K. Kurlyand, CRC Press, 2007, trang 137 - 139
(vtp-vlab-caosuviet)
Cao su kỹ thuật - O-ring cao su chịu mài mòn
Cao su kỹ thuật - O-ring cao su chịu mài mòn