Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử ngành cao su. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử ngành cao su. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Nam Mỹ (phần 1)

Ống nối mềm bằng silicone trong ngành sữa
Cuối thế kỷ XIX, sản lượng cao su tăng vọt. Theo số liệu thống kê, lượng cao su xuất khẩu khỏi Pará vào năm 1872 là 8000 tấn, đến năm 1890 là 20000 tấn, tăng gần gấp 3 lần. Nhu cầu sử dụng cao su tăng nhanh có nguyên nhân sâu sa từ phát minh động cơ đốt trong và sự xuất hiện của xe hơi vào năm 1885. Đến năm 1888, John Boyd Dunlop đã cải tiến lại lốp xe khí nén và cùng với những bước hoàn thiện sau đó, lốp xe Dunlop đã được sử dụng rộng rãi. Điều này làm tăng nhu cầu sử dụng cao su thiên nhiên.
Lúc bấy giờ, có 3 vùng cung cấp cao su thiên nhiên chính trên toàn thế giới: châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Châu Á đang phát triển chậm, trong khi quy mô sản xuất ở châu Phi là nhỏ lẻ. Vì vậy, vùng Amazon ở Nam Mỹ được xem là vùng cung cấp cao su chính để đáp ứng nhu cầu trên. Và cũng giống như ở Congo, quá trình khai thác cao su ở Nam Mỹ đã dẫn đến cái chết của hàng triệu người dân bản xứ.
Các nước phương Tây đã biết đến cao su ở Nam Mỹ khoảng 400 năm trước. Ban đầu, cao su được thu hoạch riêng lẻ, sau đó được thu hoạch bởi các nhóm nhỏ được hỗ trợ tài chính bởi các công ty thương mại. Sau khi thấy nhu cầu sử dụng cao su tăng cao cùng với khả năng kiếm được nhiều tiền từ quá trình khai thác cao su, các công ty lớn của các nhà đại tư bản lao vào, giành quyền kiểm soát vùng Amazon. Họ dùng tiền, và chủ yếu là vũ lực, chiếm các vùng đất cao su và đàn áp công nhân bản xứ. Ví dụ: Manoel Carioca kiểm soát vùng sông Gregiório, Luis de Silva Gomes có 10 triệu mẫu đất ở sông Purús, J. G. Araújo có nửa triệu mẫu đất ở sông Nergo, Germino Garrido y Otero chiếm vùng sông Icana, trong khi đó Nicolás Suárez sở hữu 16 triệu mẫu đất ở sông Beni, vùng phía Nam Amazon. Tất cả sự buôn bán, phân chia cao su và chỗ ở của các nhà đại tư bản ở Manaus, một vị trí thuận lợi, gần ngã ba sông Amazon, Negro và Purús.
(Còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  108 – 114
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Congo (phần 5)


Xem phần 1234 tại đây
Người đại diện cho Lãnh sự quán, Roger Casement, đã trải qua hơn 3 tháng ở Congo và sau đó trở về Anh viết báo cáo, tố cáo tội ác của Leopold II. Các tác phẩm ông đã xuất bản như: The heart of darkness, Red rubber: The story of the rubber trade flourishing on the Congo in the year of grace 1906. Những báo cáo chính thức này có giá trị cao, tạo nên làn sóng phản đối rộng khắp. Đến giữa năm 1907, chính quyền Congo và Bỉ bắt đầu đồng ý đàm phán và ký hiệp ước hòa bình. Leopold II mất vào tháng 12/1909. Phải đến 1913, việc chuyển giao quyền lực mới được thực hiện hoàn toàn.
Trong thời gian cai trị của Leopold II, cao su là nguyên liệu thô có giá trị nhất được xuất khẩu khỏi Congo. Lúc đầu, năm 1888, nó chỉ chiếm một lượng nhỏ khoảng 10% giá trị xuất khẩu, sau đó tăng lên 50% vào năm 1896, 70% vào năm 1898 và 90% vào năm 1901. Những số liệu thống kê cho thấy, xuất khẩu nguyên liệu thô đạt giá trị khoảng 14 triệu bảng Anh từ năm 1898 – 1905, trong khi nhập khẩu chỉ khoảng 6 triệu bảng Anh. Lượng cao su xuất khẩu hàng năm khoảng 4.5 – 6 ngàn tấn.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của chế độ cai trị Leopold II đối với dân số của Congo là rất lớn. Trong những năm 1880, dân số của Congo khoảng 25 triệu người, tới giữa những năm 1930, số liệu chính thức là 8 – 10 triệu người. Vì thế, nhìn chung có khoảng 10 – 15 triệu người dân bản xứ ở Congo đã biến mất trong giai đoạn cai trị của Leopold II. Tất nhiên có nhiều lý do cho vấn đề này như dịch bệnh, nghèo đói nhưng có thể thấy sự cai trị độc tài, tàn khốc của Leopold II, đặc biệt trong việc khai thác cao su có tác động mạnh mẽ đến sự giảm dân số của Congo. Người dân phải thu hoạch cao su từ 20 – 25 ngày một tháng để đáp ứng đủ mức thuế cao su, khiến họ không đủ thời gian để trồng trọt, chăn nuôi, xây lều trại. Điều này làm cho họ kiệt sức, bệnh tật, đói kém và dẫn tới cái chết. Giả sử, khoảng 7.5 triệu dân ở Congo đã chết do ảnh hưởng của việc khai thác cao su, và khối lượng cao su thu hoạch được khoảng 75 ngàn tấn (75 triệu kg). Vậy một người chết chỉ đáng giá 10 kg cao su, thật tàn khốc và không đáng để thực hiện.
(Hết)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  134 – 142
(vtp-vlab-caosuviet)
Phễu hút đĩa khi tráng men

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Congo (phần 4)


Xem phần 123 tại đây
Chính quyền Leopol II ở Congo bắt đầu sụp đổ với sự xuất hiện của Edmund Dene Morel. Morel có mẹ là người Anh, ba là người Pháp. Mười 17 tuổi, ông chuyển từ Paris tới Liverpool và trở thành nhân viên của công ty vận chuyển đường biển Elder – Dempster. Morel không có lịch sử hoạt động chính trị cũng như không biết và quan tâm nhiều về châu Phi. Công ty của ông nhận tất cả hợp đồng vận chuyển hàng hóa tới hoặc rời khỏi Congo. Với công việc kiểm soát hàng hóa, Morel nhanh chóng nhận thấy có điều bất thường xảy ra ở Congo. Các chuyến hàng rời khỏi Congo có lượng ngà voi và cao su lớn hơn mức công bố rất nhiều, trong khi 80% hàng được chuyển tới Congo không đem lại lợi ích cho người dân bản xứ vì chủ yếu là súng ống và  đạn dược. Sau cuộc nói chuyện không thành về vấn đề này với quản lý công ty, vào năm 1901, 28 tuổi, Morel xin thôi việc và bắt đầu viết báo tố cáo việc làm của Leopold II ở Congo. Nhưng phải 2 năm sau, ông mới làm chủ tờ báo “The West African Mail” để tự do biên tập tất cả những thông tin mà không bị hạn chế.
Với cách viết rất mạnh mẽ và những thông tin chính xác, các bài viết của Morel nhanh chóng thu hút được nhiều người đọc. Khi tên tuổi của Morel nổi tiếng, ông nhận được ngày càng nhiều bài viết, báo cáo, hình ảnh, bằng chứng về sự đàn áp, bóc lột lao động bản xứ ở Congo, làm cho bài viết của Morel có sức thuyết phục cao hơn.
Đến năm 1903, việc làm của Morel cũng mang lại kết quả nhất định. Nghị viện Anh bắt đầu tin tưởng các bài viết của Morel, nghi ngờ về việc xây dựng khu vực tự do thương mại ở Congo của Leopol II. Nghị viện đã yêu cầu Lãnh sự quán ở Congo điều tra về vấn đề này.
(Còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  125 – 131
(vtp-vlab-caosuviet)
Oring làm kín đầu piston

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Congo (phần 3)


Xem phần 12 tại đây
Lô in offset bằng cao su tổng hợp
Năm 1890, đường sắt bắt đầu được xây dựng ở Matadi. Ba năm sau nó kéo dài thêm 14 dặm. Công trình này cần rất nhiều nhân công, cả người da trắng và người da đen, những cũng phải mất thêm 5 năm nữa để hoàn thành và bắt đầu sử dụng. Leopold II cũng cho đóng các tàu chạy bằng hơi nước để lợi dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt ở Congo. Với cơ sở hạ tầng, hệ thống vận chuyển mới này, nguyên vật liệu có giá trị như ngà voi, cao su được chuyển ra khỏi Congo nhanh hơn rất nhiều.
Các loại cây leo cung cấp hầu hết lượng cao su ở Congo, chúng leo lên thân một cây khác và phát triển theo các nhánh của cây này. Người bản xứ thu cao su từ các vết rạch trên thân cây, vết rạch ngày càng cao dần. Do nhu cầu tăng lên, những loại cây leo như thế nằm gần các khu dân cư cạn kiện dần, người dân phải di chuyển xa hơn, những chuyến đi như thế có thể kéo dài trong vài ngày. Việc mua bán trao đổi các trang sức rẻ tiền không đủ gây thích thú để người dân bản xứ tiếp tục thu hoạch cao su.
Leopold II bắt đầu sử dụng vũ lực để cưỡng ép người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Quân đội tấn công vào các khu dân cư, lấy đi những vật có giá trị, phá hủy nhà ở, giam giữ phụ nữ và trẻ em. Sau đó, họ được chuộc lại bằng một lượng cao su nhất định theo yêu cầu. Quân đội của Leopold II được trang bị nhiều vũ khí hiện đại, nếu người dân chống đối lại, toàn bộ vùng dân cư đó sẽ bị xóa sạch.
Những câu chuyện ghê rợn này vẫn tiếp tục diễn ra nhưng bắt đầu đã có một số người phát hiện được và tố cáo hoạt động của Leopold II. Đầu tiên là James Washington Williams, một người Mỹ da đen, một người lính, một luật sư và cũng là một người truyền giáo. Ông nổi tiếng là người đấu tranh cho quyền lợi của người da đen ở Mỹ. Với hi vọng người Mỹ da đen sẽ được đối xử tốt hơn ở Congo, năm 1890, ông đã trải qua 6 tháng ở Congo để tìm hiểu cuộc sống ở nơi đây. Khi biết được sự thật, ông vô cùng chán nản và viết thư tố cáo tội ác của Leopold II, và cũng gửi một thư tương tự cho tổng thống Mỹ Harrison, mô tả hành động của Leopold II như là tội ác chống lại loài người. Nhưng sau đó, bằng mối quan hệ rộng rãi, Leopold II đã tìm rất nhiều lý do hạ thấp uy tín của Williams cho đến khi Williams chết vì bệnh lao ở tuổi 41.
Một nỗ lực khác đến từ một nhà truyền giáo người Mỹ, William Henry Sheppard. Ông sống ở Congo cùng thời gian với Williams, ở khu vực xa sông Kasai, khu vực của người Kuba. Năm 1899, ông chứng kiến quân đội của Leopold II đàn áp người dân Kuba. Sheppard bắt đầu viết bài tố cáo trên các tạp chí truyền giáo và về cuộc chiến của người Kuba. Tuy nhiên, tất cả tội ác này được tòa tuyên án dành cho những người lính của Leopold II.
(Còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  125 – 131
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Congo (phần 2)


Trục kéo giấy máy thành phẩm
Vấn đề đặt ra cho Leopold II lúc này là tìm một người đáng tin cậy để xây dựng cơ sở ở Congo. Người này cũng phải am hiểu về châu Phi và sẵn sàng sử dụng vũ lực khi cần thiết. Và người thích hợp với những yêu cầu trên là Henry Morton Stanley, người đã có 3 năm kinh nghiệm về châu Phi khi đi từ Hồ Tanganyika tới Lualaba và Congo, sau đó tới bờ biển phía tây châu Phi trong chuyến thám hiểm vào năm 1874 để tìm hiểu mối liên quan giữa các con sông Lualaba, Nile, Niger và Congo. Thái độ của Stanley đối với người bản xứ phù hợp với những gì mà Leopold II yêu cầu. Trong chuyến thám hiểm này, Stanley và các người khác trong đoàn được trang bị vũ khí hiện đại và sẵn sàng chiến đấu với sự chống đối của bất cứ bộ lạc nào. Tuy nhiên, lúc cần thiết Stanley cũng có cách tiếp cận khéo léo như truyền bá cho vua Uganda về đạo Cơ đốc giáo.
Tới tháng 6/1878, Stanley đã có cuộc nói chuyện chính thức với Leopold II tại Brussels, Bỉ. Cuộc nói chuyện diễn ra suôn sẻ và Stanley nhấn mạnh rằng bước đầu tiên là phải xây dựng một hệ thống đường sắt đi vòng qua các thác nước tới bờ biển phía Tây. Sự ủng hộ tài chính của các thương nhân Hà Lan ở cửa sông Congo và các tổ chức tài chính ở châu Âu đã lập nên tổ chức “Comite´ d’Etudes du Haut-Congo” để thực hiện điều này, với điều khoản tổ chức không tham gia bất cứ hoạt động chính trị nào. Nhưng điều này bị lãng quên nhanh chóng. Tới tháng 8/1878, Stanley đã giành được 1 000 000 dặm vuông đất ở Congo cho Leopold II. Tháng 11/1878, Leopold II thông báo tới các cổ đông của tổ chức rằng toàn bộ số tiền đã được đầu tư và hứa sẽ trả lại số tiền đầu tư ban đầu và các khoản lợi nhuận thu được từ sự làm ăn này. Sau nó, ông giải tán tổ chức “Comite´ d’Etudes du Haut-Congo” và thay thế bằng tổ chức “Association Internationale du Congo” (AIC) với 100% vốn của mình.
Mặc dù tài chính đã vững mạnh, nhưng Leopold cần sự thừa nhận của quốc tế. Tại hội nghị Berlin 1884 – 1885 bàn về đất đai ở châu Phi, nhờ quá trình đàm phán song phương, Leopold II gặp rất ít khó khăn trong việc được thừa nhận những vùng đất mà ông đã giành được. Có hai lý do cho việc này. Đầu tiên, hầu hết các đại biểu không biết nhiều về châu Phi và cho rằng chỉ có thể làm giàu từ thương mại liên quan tới nước. Ngoài ra, họ cho rằng tổ chức của Leopold II, là AIA hoặc AIC, sẽ biến nơi này thành một kiểu thuộc địa quốc tế và một khu vực tự do thương mại lớn.
Cho tới lúc này, hệ thống đường ray vẫn chưa hoàn thành. Nó được dùng chủ yếu để vận chuyển các tài nguyên, khoáng vật của Congo tới bờ biển, như ngà voi, sau đó chuyển chúng ra nước ngoài bằng đường biển.Trong khi đó, cao su chưa được khai thác nhiều, năm 1887, chỉ 30 tấn cao su được xuất khỏi Congo.
(Còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  114 – 123
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012

Lịch sử phát triển cao su ở Congo (phần 1)


Trong khoảng thời gian giữa cuối thể kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngoại trừ Amazon, còn có một khu vực khác cũng đóng góp một lượng cao su đáng kể cho toàn thế giới, đó là Congo. Tuy nhiên quá trình phát triển cao su ở Congo lại rất khác. Trong khi vùng Amazon từ rất lâu được xem là nguồn cung cấp cao su thiên nhiên và sản lượng cao su tăng lên một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thì sự phát triển cao su ở Congo nhằm thỏa mãn ước muốn của vua nước Bỉ, Leopold II về tiền bạc để củng cố triều đại của gia đình mình.
Leopold II kế thừa ngôi vua từ cha mình từ năm 1865, 34 năm sau khi nước Bỉ ra đời, trong bối cảnh nước Bỉ đang giàu có và trung lập về chính trị. Tuy nhiên, Leopold II không thật sự giàu có, ông nhận thức rằng nước Bỉ sẽ không dừng lại mà tiếp tục phát triển và càng giàu hơn và dự đoán rằng các thế lực giàu có hơn sẽ thay thế mình. Với vị trị hiện tại được thừa hưởng từ cha, kiêm cả chức chỉ huy quân đội và bộ trưởng ngoại giao, vua Leopold II rõ ràng có thuận lợi trong việc tìm kiếm một vùng nào đó trên thế giới chưa tồn tại chế độ thuộc địa và những gì có thể thu được từ đây để làm giàu cho đất nước và chính bản thân Leopold II.
Sau những chuyến tham quan Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ, các bang Malay vào các năm 1855 và 1864, Leopold II đã nhận thấy được chế độ thuộc địa phù hợp với ý tưởng của mình: chế độ mà có rất nhiều công nhân bản xứ làm việc dưới sự quản lý của người da trắng. Trong khoảng 10 năm tiếp theo, tuy Leopold II cố gắng tìm kiếm, gây ảnh hưởng đến một số quốc gia có thể để xây dựng chế độ này nhưng vẫn chưa thành công. Sau đó vào năm 1875, Leopold II bắt đầu chuyển hướng sang châu Phi và tập trung vào Congo, một khu vực bằng phẳng, trống trải  trên bản đồ, lúc bấy giờ nó là sự quan tâm của nhiều người sau các phát hiện về các khoáng vật, lúa mì, cao su và những câu chuyện về người nô lệ Ả Rập sau các chuyến thám hiểm của các nhà khoa học.
Hai vấn đề chính lúc bấy giờ đối với Leopold là xây dựng chế độ thuộc địa ở Congo mà không làm lo ngại hoặc đánh động các nước khác  ở châu Âu và vơ vét tất cả những thứ có giá trị mà không phải chia sẻ chúng. Để giải quyết hai vấn đền này, tại Hội nghị ở Brussels năm 1876, Leopold II đã thuyết phục Hiệp hội Association Internationale Africaine (AIA) hỗ trợ phát triển và xây dựng cơ sở hạ tầng ở các quốc gia ở Trung Phi nhưng thực chất là tìm cơ hội để vào Congo. Sau đó, Leopold II bắt đầu xây dựng đội ngũ để xây dựng chế độ thuộc địa riêng của mình ở Congo.
(Còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  108 – 114
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Tài liệu cao su: Lịch sử phát triển đồn điền cao su (phần 3)

Xem phần 12 tại đây
Trong khi đó ở bán đảo Malaysia, 22 cây con Hevea đến từ Singapore vào năm 1877 đã đặt nền tảng cho sự phát triển của đồn điền cao su ở Malaysia sau này. Thật sự, chính quyền địa phương không quan tâm nhiều tới ý tưởng trồng các loại cây này do việc khai khoáng mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Lúc đầu, Murton trồng 10 cây con ở Vườn thực vật học Singapore. Sau đó, ông trồng tiếp 10 cây con khác ở Phủ thống sứ, ở Kuala Kangsar; trong đó 9 cây con được trồng ở vườn Phủ thống sứ, còn cây còn lại được trồng ở Taiping. Một trong 9 cây con đó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay.
Ban đầu, những điều tra về cây Hevea và các cây trồng bản xứ tạo ra cao su của Murton và Cantly cho thấy các cây bản xứ có giá trị kinh tế cao hơn, những cây Hevea phải được trồng ít nhất là 5 năm mới bắt đầu thu hoạch được. Tuy nhiên đến năm 1888, Henry Ridley được bổ nhiệm làm giám đốc Vườn thực vật học Singapore, đã đề nghị chính phủ xem xét trồng loại cây Hevea ở quy mô lớn hơn. Cũng giống như tiến sĩ Trimen ở Sri Lanka, ông cũng nghiên cứu các phương pháp trồng trọt và thu latex cao su để tối ưu năng suất cao su thu được. Ông đã xuất bản ý tưởng của mình vào năm 1897, các người trồng cao su đã làm theo và năng suất thu latex đạt được rất cao, làm cho quá trình sản xuất cao su có thể mang lại lợi nhuận.
Một yếu tố khác thúc đẩy Malaysia trồng cao su là do hàng hóa nông nghiệp từ Brazil. Lúc đầu rất nhiều người trồng phát triển các đồn điền cà phê do giá cà phê ở Brazil lúc này rất cao. Nhưng đến giữa những năm 1890, các vấn đề ở Brazil đã được giải quyết, giá cà phê giảm xuống. Trong khi đó, dịch nấm mốc bắt đầu xuất hiện và tấn công các giống cây trồng ở Malaysia. Thị trường cà phê sụp đổ, rất nhiều người trồng bắt đầu chuyển sang phát triển các đồn điền cao su. Từ đó, đồn điền cao su ở Malaysia phát triển rất mạnh, diện tích trồng cao su tăng với tốc độ cực nhanh qua các năm: năm 1898 là 2 000 mẫu (arce), năm 1900 là 6000 mẫu; năm 1905 là 46 000 mẫu; năm 1910 là 540 000 mẫu; và năm 1920 là 2 180 000 mẫu.
(hết)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang 99 – 102
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Lịch sử phát triển đồn điền cao su (phần 2)


Xem phần 1 tại đây
Tại Sri Lanka, các trồng trọt thí nghiệm đã được thực hiện tại các vườn thực vật học ở Heneratgoda và Peradeniya. Các người trồng thí nghiệm không tin rằng Hevea là sự lựa chọn tốt nhất, nên họ cũng thí nghiệm các loại cây khác như Ficus elastica, Castilloa và Ceara. Lúc đầu, hai loại cây sau được ưa chuộng vì chúng sinh trưởng nhanh hơn, sau đó họ chuyển sang các cây Hevea, chúng phát triển chậm nhưng có hiệu suất thu latex cao hơn. Tới năm 1882, các cây Hevea này bắt đầu cho hạt, đây cũng là cơ sở cho sự phát triển của các đồn điền cao su ở Ấn Độ sau này. Tuy nhiên lúc bấy giờ, nhu cầu trồng cao su tư nhân rất thấp do nhiều người trồng đã bị phá sản do dịch bệnh trên cây cà phê xảy ra vài năm trước, những người còn lại trồng trà hoặc sang Malaysia trồng lại cà phê. Cho tới những năm 1890, việc trồng cao su ở Sri Lanka mới bắt đầu phát triển.
Tại vườn thực vật học, tiến sĩ Trimen nghiên cứu quy trình rạch lấy mủ cao su sao cho có thể thu được lượng latex nhiều nhất có thể từ mỗi cây. Từ nghiên cứu của mình, ông đã kết luận rằng việc trồng cao su có thể mang lại lợi nhận và cần được phát triển trong tương lai. Từ đó, ông bắt đầu thuyết phục chính phủ và các nhà trồng tư nhân về vấn đề này. Năm 1896, ông đã thuyết phục được J. C. Willis chuyển sang trồng cao su do giá trà xuống thấp và ông cũng nhận được sự hỗ trợ đáng kể của chính phủ về chương trình trồng trọt này. Từ đây, ngành công nghiệp đồn điền cao su bắt đầu phát triển thịnh vượng ở Sri Lanka. Diện tích trồng cao su ở Ceylon tăng nhanh qua các năm: 1990 là 1 000 mẫu (acre), 1905 là 66 000 mẫu, 1910 là 258 000 mẫu, còn năm 1920 là 433 000 mẫu. Trong đó, năm 1899 là năm đánh dấu sự xuất khẩu thương mại đầu tiên của cao su được trồng ở đồn điền của quốc gia này.
 (còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang 97 - 99
(vtp-vlab-caosuviet)

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Lịch sử phát triển đồn điền cao su (phần 1)


Có hai sự kiện xảy ra tình cờ nhưng có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp của Clements Markham và sự phát triển của các đồn điền cao su. Đầu tiên là việc chuyển các cây “cinchona” tới Ấn Độ thông qua Vườn thực vật ở Kew với sự giúp đỡ của Robert Cross, từ vỏ cây có thể chiết tách ra quinin để chữa trị các bệnh truyền nhiễm. Năm 1865, Markham tới Ấn Độ và Ceylon (Sri Lanka) để kiểm tra các cây “cinchona”. Và tại đây, ông đã chú ý tới các cây cao su bị chết do khai thác quá mức, có quá nhiều vết rạch trên thân cây để lấy mủ cao su. Từ đó, ông là người đầu tiên nảy sinh ra ý tưởng thành lập các đồn điền cao su để khai thác cao su hiệu quả hơn và đáp ứng nhu cầu cao su ngày càng cao của các nước công nghiệp.
Sau đó, Markham nhờ Robert Cross tới Amazon để thu thập các hạt cao su. Ông cũng bàn bạc với Giám đốc Vườn thực vật tại Kew và yêu cầu gửi một vài hạt cao su Hevea tới Kew. Song song với các việc này, tháng 4 năm 1875, Markhan cũng đã đạt được thỏa thuận với Wickham về việc thu thập và vận chuyển các hạt cây cao su về Kew, Anh với mức giá 10 bảng Anh trên 1000 hạt cao su mà Wickham thu nhặt được.
70 000 hạt cao su của Wickham đến Kew vào ngày 14/06/1876 và chúng được gieo trồng trong vườn ươm. Một vài tuần sau, 2397 hạt đã nảy mầm (ít hơn 10% so với tổng lượng hạt của Wickham). Sau đó 1919 cây con được gởi tới Ceylon (Sri Lanka), tới nơi chỉ còn khoảng 1700 cây con còn sống và được trồng ở vườn Heneratgoda ở Colombo, tuy nhiên đến năm 1880 chỉ còn khoảng 300 cây sống sót. Trong lúc đó, 50 cây con khác cũng được gửi tới Singapore, nhưng tất cả chúng đã chết trong quá trình vận chuyển. Tháng 9 năm 1876, 100 cây con khác lại được chuyển đến Sri Lanka. Vào tháng 11 năm 1876, Robert Cross trở về Kew và đem theo 1080 cây con. Sau đó, chúng được nuôi trồng nhưng chỉ có 24 cây sống sót.
Mùa hè năm 1877, Kew đã gửi tiếp 100 cây con khác tới Sri Lanka và 50 cây tới Ấn Độ. Tiếp theo đó, Sri Lanka chuyển 22 cây con sang Singapore, và chúng là nguồn gốc của hơn 75% cây cao su được trồng ở Malaysia. Vì không có tài liệu ghi nhận 100 cây con được chuyển tới Sri Lanka được nhân giống từ các cây con của Wickham hay các cây con của Cross nên ta không biết ai là người đóng góp trực tiếp đến sự phát triển của các đồn điền cao su ở Malaysia. Đây vẫn là một vấn đề gây tranh cãi cho tới ngày nay.
(còn tiếp)
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  81 – 98
(vtp-vlab-caosuviet)

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Charles Goodyear và phát minh về sự lưu hóa cao su (phần 2)


Xem phần 1 tại đây
Do rất nhiều thất bại trước đó, Goodyear rất khó thuyết phục mọi người rằng ông đã đạt được một điều gì đó đáng giá. Tất cả nỗ lực của công để làm một tấm cao su lưu hóa đều thất bại. Năm 1842, Goodyear chỉ cho Horace Cutler, một người làm giày gần nơi ông sống những mẫu cao su lưu hóa của mình, Cutler rất quan tâm và muốn sản xuất những đôi giày bao bằng cao su. Do chưa chuẩn bị kỹ trước, sự hợp tác này thất bại. Cutler bán một số đôi giày bao tốt nhất của mình cho một nhà sản xuất cao su khác, Horace Day, để lấy lại một phần vốn.
Horace Day là một con người rất tham vọng. Ông thuyết phục Cutler về làm việc cùng với mình để biết về quy trình sản xuất cao su của Goodyear nhưng Day cũng không thể sản xuất ra các sản phẩm với chất lượng mong muốn. Lúc này là giữa năm 1834, chúng ta thấy rõ rằng quá trình lưu hóa của Charles Goodyear thỉnh thoảng sản xuất ra sản phẩm có thể bán được nên nó khó được đăng ký bằng sáng chế. Sau đó, Goodyear qua Anh, nơi có ngành cao su phát triển nhưng chưa biết quá trình lưu hóa của ông. Ông định bán những bí mật, quy trình sản xuất của mình ở đây nhưng không thành công do chưa đăng ký sáng chế trước.

Rút kinh nghiệm ở Anh, đầu năm 1844, Goodyear đã đăng ký sáng chế cho quá trình lưu hóa cao su của mình ở Mỹ. Lúc này, người anh rể của ông, William DeForest, thành lập công ty cao su Naugatuck đã mua tất cả các bằng sáng chế của Goodyear. Lúc này, Horace Day lại xuất hiện, khôn khéo đăng ký một sáng chế chủ yếu dựa trên sáng chế của Goodyear để sản xuất quần áo. Việc làm này không chỉ vi phạm sáng chế của Goodyear, mà còn đe dọa sự sản xuất kinh doanh của các công ty cao su khác.
Lúc bấy giờ, năm 1851, Goodyear  bận tham dự Triễn lãm lớn của Nữ hoàng Victoria ở Anh. Goodyear chỉ tập trung triển lãm vật liệu Ebonit, một vật liệu rất cứng trong khi Thomas Hancock chú trọng và sự đa dạng của nhiều loại vật liệu cao su, những loại tương đối mềm và có ứng dụng thực tế. Điều này cho thấy tính thực tế, kinh tế trong các nghiên cứu của Hancock; và giải thích tại sao cuộc sống của Goodyear luôn khó khăn.
Sau đó, Goodyear về Mỹ và thắng kiện Horace Day, một trong những vụ kiện lớn nhất trong lịch sử. Như trút bỏ được gánh nặng, Goodyear bắt đầu viết sách và xuất bản 2 cuốn vào năm 1853 và tham dự rất thành công cuộc Triển lãm ở Paris, triển lãm của ông vẫn làm về Ebonit.
Charles Goodyear mất vào ngày 01 tháng 7 năm 1860. Ông được chôn ở Grove Street Cemetery, New Haven, dưới một ngôi mộ lớn có khắc tên GOODYEAR.
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  29 – 44
(vtp-vlab-caosuviet)

Charles Goodyear và phát minh về sự lưu hóa cao su (phần 1)


Trong lịch sử, có hai phát minh được xem là rất quan trọng làm thay đổi hoàn toàn ngành cao su. Đó là phát minh về sự lưu hóa cao su và phát minh về cán trộn cao su. Hiện nay, Charles Goodyear được xem là người đã phát minh ra sự lưu hóa cao su (năm 1839), làm cho việc sử dụng vật liệu cao su hiệu quả hơn rất nhiều.
Charles Goodyear được sinh tại Connecticut vào tháng 12/1800. Năm năm sau, gia đình ông chuyển đến thành phố Union và sau đó là Naugatuck. Năm 16 tuổi, ông bắt đầu kinh doanh phần cứng máy tính cùng cha mình, sau đó ông cưới Clarissa Beecher và tới Philadelphia để thành lập công ty phần cứng của riêng mình. Do kinh doanh khó khăn cùng với sự khủng hoảng kinh tế đến năm 1831, ông tuyên bố phá sản.
Năm 1834, khi đi ngang qua một tiệm bán lẻ của công ty Roxbury India Rubber ở New York, công ty sản xuất cao su đầu tiên ở Mỹ, Charles Goodyear thấy những cái áo khoác bằng cao su được trưng bày trong tiệm. Người quản lý chỉ cho ông những vật dụng khác cũng được làm từ cao su, một vật liệu lúc bấy giờ sẽ chảy nhão và dính khi gia nhiệt. Goodyear bắt đầu tò mò về loại vật liệu này.
Sau đó, ông trở về Philadelphia và bị bắt giam vào tù vì nợ nần. Trong tù, ông đã thực hiện các thí nghiệm đầu tiên của mình về cao su bằng cách cho các loại bột khô như đá, magie oxit vào cao su vì ông nghĩ rằng chúng sẽ làm giảm tính dính của cao su. Khi ra tù, ông đã làm những đôi giày xỏ bằng cao su được độn magie oxit nhưng không thành công do chúng vẫn chảy nhão khi nhiệt độ môi trường tăng cao vào những ngày hè.
Năm 1836, ông tới New York để tiếp tục thí nghiệm. Ông nghiên cứu thêm vào cao su hai chất làm khô là magie oxit và đá vôi, cố gắng cải thiện sản phẩm. Lúc bấy giờ, ông cũng phát hiện axit nitric cũng có khả năng làm mất tính dính của cao su. Sau đó, Goodyear gặp Nathaniel Hayward và được giao làm quản đốc nhà máy Eagle Rubber ở Woburn, Massachusetts. Lúc này, ông phát hiện rằng các tấm cao su được phủ lưu huỳnh nếu để tiếp xúc với ánh sáng mặt trời sẽ làm cho cao su khô hơn và các tính chất cơ lý nổi bật hơn. Goodyear nhận được hợp đồng của chính phủ làm 150 túi đưa thư, có dùng quá trình xử lý cao su bằng axit nitric. Tuy nhiên, sản phẩm làm ra sau một thời gian dài tồn trữ vẫn chảy nhão. Thất bại này không những làm cho ông khó khăn về kinh tế, phải bỏ nhà máy Eagle Rubber, mà còn làm giảm lòng tin của bạn bè và những người đã hỗ trợ ông.
Năm 1839, Goodyear  tiếp tục thí nghiệm sử dụng lưu huỳnh như là chất làm khô cao su. Goodyear đã viết trong tự truyện của mình như sau, trong một lần đến thăm nhà máy ở Woburn, ông đã ở lại và thực hiện các thí nghiệm để đánh giá tác động của nhiệt lên hợp chất cao su có cùng thành phần với hợp chất làm túi đưa thư. Ông đã bất cẩn làm rơi một mẫu thí nghiệm vào lò nung và nó biến tính giống như da. Từ đó, ông nghĩ rằng nếu gia nhiệt hợp lý, cao su sẽ không còn chảy nhão và dính khi gia nhiệt. Cuối cùng, ông đã tiến hành nhiều thí nghiệm và kết luận gia nhiệt hỗn hợp cao su và lưu huỳnh từ 4-6 giờ ở nhiệt độ 130oC sẽ cho kết quả tốt nhất. Ông ta đã làm những việc mà hiện nay được gọi là quá trình lưu hóa cao su.
(Còn tiếp)
Xem phần 2 tại đây
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  29 – 44
(vtp-vlab-caosuviet)

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Thomas Hancock và phát minh máy cán trộn cao su (phần 3)


Xem phần 1, 2 tại đây
Sau đó vào năm 1846, công ty Chas. Macintosh and Co. của Hancock đã mua phát minh lưu hóa “nguội” của Alexander Parkes, dùng lưu huỳnh clorua trong dung môi cacbon disunfit với giá £5000, và bắt đầu kỷ nguyên sản xuất các sản phẩm cao su lưu hóa của công ty. Công ty kinh doanh rất thịnh vượng và thành công.
Đến năm 1847, từ Mỹ một chuyến tàu đầu tiên chở các sản phẩm cao su lưu hóa đến Anh, đó là các giày xỏ ngoài bằng cao su. Điều này tiềm ẩn một mối đe dọa vị trí của công ty Chas. Macintosh & Co. ở Anh và mở đầu cho sự tranh luận về phát minh lưu hóa cao su mà Hancock thực hiện trước đó. Công ty Chas. Macintosh & Co. chỉ công nhận công ty cao su Hayward của Mỹ có quyền nhập khẩu và bán các đôi giày cao su lưu hóa. Trên cơ sở phát minh của Hancock, đến năm 1849, Chas. Macintosh & Co. bắt đầu không công nhận các công ty ở Anh nhập hàng từ công ty Hayward. Điều này cũng xem như là một sự phản đối Stephen Moulton, người đang sản xuất các sản phẩm cao su ngay tại Anh.
Stephen Moulton sinh ra ở Anh và được biết đến như người đã mang các mẫu cao su lưu hóa của Goodyear về Anh và nhờ Brockedon đưa cho Hancock. Moulton từng sống ở New York vào năm 1839 với vai trò một người môi giới. Ở đây, Moulton gặp Goodyear, Goodyear đã nhờ ông về Anh và cố gắng thuyết phục các thành viên của ngành cao su ở Anh đầu tư vốn để sản xuất vật liệu cao su lưu hóa nhưng kết quả là không thành công. Năm 1847, Moulton đã tự thành lập một nhà máy sản xuất các sản phẩm cao su của riêng mình ở phía Tây nước Anh và đến năm 1848 thì nhà máy đi vào hoạt động. Ông cũng nhờ nhà hóa học James Thomas đăng ký phát minh sử dụng chì hydrosunfit, một hóa chất mới, làm chất lưu hóa thay vì sử dụng lưu huỳnh vào năm 1847 để không phải trả tiền cho phát minh của Hancock. Hancock không chấp nhận việc này vì tính độc quyền của ông ở Anh bị mất. Sau khi tham gia triển lãm vào ở Anh vào năm 1851, Hancock đã kiện Moulton ra tòa. Sau nhiều lần xét xử, cuối cùng vào tháng 1/1856, tòa tuyên bố Moulton phải trả £600 mỗi năm để tiếp tục sản xuất các sản phẩm cao su. Moulton nói riêng và các công ty cao su nói chung lúc bấy giờ không hài lòng về tính độc quyền về việc sản xuất các sản phẩm cao su ở Anh mà Hancock giành được nên có xu hướng chống đối Hancock, nghi ngờ những phát minh mà Hancock đã thực hiện.
Thomas Hancock mất tại nhà riêng ở Green Lanes, Stoke Newington vào ngày 26/03/1865 và được chôn cất ở Kensal Green Cemetery. Dù vẫn còn những nghi ngờ về các phát minh của Hancock, nhưng thật sự là nếu không có sự định hướng và những phát minh của ông từ những năm 1820 tới những năm 1850, ngành công nghiệp cao su của Anh lúc bấy giờ đã không phát triển và đạt được những thành tựu to lớn như vậy.
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang 67 - 80
(vtp-vlab-caosuviet)

Thomas Hancock và phát minh máy cán trộn cao su (phần 2)


Xem phần 1 tại đây
Sau đó, vào các năm 1824 và 1825, Hancock bắt đầu thí nghiệm với những dung dịch cao su và lấy các bằng sáng chế về sản xuất da nhân tạo, dây thừng không thấm nước. Dung môi được sử dụng là hỗn hợp dầu coal – tar  được tinh cất và dầu thông. Hancock nhận thấy rằng cao su đã được nghiền trộn trước khi hòa tan vào hỗn hợp dầu coal – tar và dầu thông tạo thành dung dịch cao su tốt hơn dung dịch cao su mà Macintosh phát minh vào năm 1823, vì nó tạo lớp bao phủ dày hơn và dùng dung môi ít hơn. Đến năm 1830, hai người bắt đầu hợp tác để nghiên cứu xa hơn. Trong khoảng thời gian này, Hancock tự mở một nhà máy ở Lodon và Macintosh cũng thành lập công ty Chas. Macintosh ở Manchester, để sản xuất các loại quần áo không thấm nước. Năm 1834, nhà máy ở London bị cháy, Hancock quyết định đóng góp và trở thành thành viên danh dự của công ty Chas. Macintosh.
Nhưng đáng chú ý hơn cả là câu chuyện câu chuyện về sự lưu hóa cao su xuất hiện ở Anh vào năm 1842. Stephen Moulton, người đại diện của Goodyear, đã mang vài mẫu cao su lưu hóa của Goodyear tới Anh với mục đích bán phát minh chưa đăng ký sáng chế này để kiếm một khoản tiền lớn. Moulton đã mang chúng tới công ty Chas. Macitosh, nhưng công ty không chú ý nhiều vì không biết thành phần hóa học và quy trình sản xuất cụ thể để tính toán lượng vốn cần thiết để đầu tư, bổ sung vào quy trình lúc bấy giờ. Sau đó, chúng được đưa tới cho Hancock, ông thừa nhận rằng ông đang thí nghiệm với lưu huỳnh trong nhiều năm nhưng chưa thành công và vật liệu mới này thúc đẩy ông nghiên cứu xa hơn. Từ mùa đông năm 1842 tới mùa hè năm 1843, Thomas Hancock đã thực hiện một loạt các thí nghiệm có hệ thống về việc gia nhiệt các mẫu cao su có chứa lưu huỳnh. Ngày 21/05/1844, Hancock đã đăng ký bằng sáng chế mới của mình. Trong sáng chế này, ông cung cấp những thông tin về các cách cho lưu huỳnh vào cao su như cán trộn lưu huỳnh, cao su và các bột vô cơ trong máy cán hoặc ngâm lưu huỳnh đã nghiền trộn vào lưu huỳnh nóng chảy; mối quan hệ giữa thời gian lưu hóa – nhiệt độ lưu hóa – bề dày sản phẩm để đạt sự lưu hóa tối đa; cũng như việc loại bỏ lưu huỳnh dư sau quá trình lưu hóa. William Brockedon, giám đốc của công ty Chas. Macintosh lúc bấy giờ, đã gọi tên quá trình này là “vulcanisation” và nó được dùng tới ngày nay.
Tuy nhiên, sáng chế của Hancock về quá trình lưu hóa vẫn chưa thật sự rõ ràng. Một số người cho rằng Hancock có thể đã phân tích các mẫu cao su lưu hóa của Goodyear và tìm hiểu cách mà Goodyear đã thực hiện. Ngược lại, một số nhà hóa học nhận xét việc phân tích các mẫu cao su lưu hóa của Goodyear không cung cấp đủ thông tin để Hancock sản xuất chúng và ông đã tự phát hiện ra điều này. Mặc dù sự thật là sao đi nữa, ta nhận thấy được Hancock tuy không phải là người đầu tiên phát minh ra quá trình lưu hóa cao su nhưng ông đã hiểu, kiểm soát quá trình lưu hóa tốt hơn Goodyear và kết hợp với việc phân tán đều lưu huỳnh vào cao su nhờ các máy cán trộn nên chất lượng sản phẩm đã cải thiện đáng kể.
(còn tiếp)
Xem phần 3 tại đây
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  53 – 66
(vtp-vlab-caosuviet)

Thomas Hancock và phát minh máy cán trộn cao su (phần 1)


Charles Goodyear hiện nay được xem là người phát minh ra sự lưu hóa cao su, nhưng Thomas Hancock mới là người hiểu rõ, kiểm soát quá trình này với việc phát minh ra máy cán trộn cao su làm cải thiện chất lượng của cao su nguyên liệu, phân tán tốt lưu huỳnh và các hóa chất khác vào trong cao su.
Thomas Hancock được sinh vào năm 1786 tại Marlborough, Wiltshire, là người con thứ ba trong một gia đình có 12 con. Sau năm 1815, Thomas Hancock cùng em trai của mình thành lập một công ty đóng xe ngựa ở London. Ông bắt đầu quan tâm đến cao su khi muốn tạo các loại vải không thấm nước để dùng cho các chiếc xe ngựa của mình. Cho tới năm 1819, ông đã bắt đầu thí nghiệm hòa tan cao su trong dầu thông nhưng ông chưa thỏa mãn vì lớp màng phủ cao su mỏng và chất lượng thấp. Lúc bấy giờ, ông cũng nhận thấy được các tính chất không mong muốn của cao su, tính dính nhớt khi được nung nóng và giòn khi làm lạnh.
Trong các thí nghiệm để tìm hiểu nguyên nhân hư hỏng của các vật liệu cao su đàn hồi, ông đã có một phát hiện quan trọng làm cơ sở cho việc tạo thành các máy cán trộn cao su. Ông cắt các mẫu cao su và co dãn chúng. Ông quan sát thấy vết xé rách xuất hiện rất nhanh ở vết cắt. Nhưng sau khi cắt nếu ngâm các mẫu cao su vào trong nước nóng trước khi thí nghiệm thì vật liệu cao su bền hơn, vì các vết cắt tự lành lại. Đây trở thành một nguyên tắc của ông trong sản xuất các vòng cao su.
Từ quan sát này, Thomas Hancock đã thiết kết các khuôn, dưới điều kiện gia nhiệt, chúng ép các mẫu cao su thừa thành một khối cao su. Từ đây, ông lại suy nghĩ thiết kết một máy nghiền mẫu cao su thành các mảnh nhỏ và sau đó hợp chúng lại thành một khối cao su đồng nhất. Và vào năm 1820, Thomas Hancock đã tạo ra máy nghiền đầu tiên bằng gỗ. Nó gồm một khối rỗng hình trụ có các đầu kim loại nhọn bên trong, ở giữa là một khối hình trụ được nối với tay cầm - được quay bằng tay. Vật liệu cao su sẽ đi qua cửa nhập liệu ở phần trên của máy vào phần giữa của hai khối trụ này và tạo thành một khối cao su đồng nhất. Loại máy này chỉ nạp liệu được 2 ounce cao su mỗi lần. Cùng với những cải tiến sau đó như máy được làm bằng sắt đúc, thiết kế bánh răng thay thế cho các đầu kim loại nhọn, công suất nạp liệu của máy nghiền tăng lên 200 pound vào năm 1840.
(còn tiếp)
Xem phần 2, 3 tại đây
Tham khảo từ sách Tears of the tree, John Loadman, Oxford University Press, 2005, trang  45 – 52
(vtp-vlab-caosuviet)